Kinh điển

Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo

Phật nói kinh mười nghiệp lành — tại long cung Ta-kiệt-la

Thật-xoa-nan-đà dịch Hán, đời Đường · chánh văn theo “Kinh Thập Thiện Giảng Giải” của HT. Thích Thanh Từ · đọc chừng 8 phút

Trích “Cửu long đồ” của Trần Dung (1244) — phạm vi công cộng, qua Wikimedia Commons.
18
Đổi giọng đọc · tùy máy của quý vị

Muốn giọng nam hoặc giọng tự nhiên hơn, cài thêm giọng tiếng Việt cho máy rồi mở lại trang:

  • iPhone, iPad: Cài đặt → Trợ năng → Nội dung được đọc → Giọng nói → Tiếng Việt → tải bản Nâng cao của giọng Linh (tự nhiên hơn).
  • Android: Cài đặt → Hệ thống → Ngôn ngữ → Đầu ra văn bản sang lời nói → chọn Google → ⚙ → Cài đặt dữ liệu giọng nói → Tiếng Việt → chọn giọng nam.
  • Windows: Mở trang bằng Microsoft Edge để có giọng nam NamMinh tự nhiên; hoặc Cài đặt → Thời gian & ngôn ngữ → Giọng nói → Thêm giọng nói → Tiếng Việt (giọng nam An).
  • Mac: Cài đặt hệ thống → Trợ năng → Nội dung được đọc → Giọng hệ thống → Quản lý giọng nói → Tiếng Việt.

Hiện các máy chưa có sẵn giọng nam miền Nam; trang sẽ tự chọn giọng nam nếu máy có.

Chánh văn (trích)

“Tôi nghe như vầy: Một thuở nọ đức Phật ở tại cung Rồng Ta-kiệt-la cùng với tám ngàn chúng đại Tỳ-kheo và ba mươi hai ngàn vị đại Bồ-tát.” (HT. Thích Thanh Từ dịch) — kinh được nói tại long cung, cho Long Vương: nhắc quý vị rằng bậc có oai thần lớn vẫn phải học lại bài học căn bản nhất của người tu.

“Pháp này là con đường mười nghiệp lành. Những gì là mười? Là hằng lìa dứt sát sanh, trộm cướp, tà hạnh, vọng ngữ, hai lưỡi, ác khẩu, ỷ ngữ, tham dục, sân nhuế và tà kiến.” (HT. Thích Thanh Từ dịch)

Như thị ngã văn: Nhất thời Phật tại Ta-kiệt-la Long cung, dữ bát thiên đại Tỳ-kheo chúng, tam vạn nhị thiên Bồ-tát ma-ha-tát câu. Thử pháp tức thị Thập thiện nghiệp đạo. Hà đẳng vi thập? Vị năng vĩnh ly sát sanh, thâu đạo, tà hạnh, vọng ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ, tham dục, sân nhuế, tà kiến.

Nguyên âm và bản dịch theo HT. Thích Thanh Từ (“Kinh Thập Thiện Giảng Giải”, thientongvietnam.net; trích dẫn trên budsas.net). “Thâu đạo” là trộm cắp.

Mười nghiệp lành

Thân có ba: không sát sinh — quý trọng mọi mạng sống, chẳng giết hại, chẳng bảo người giết, chẳng sanh lòng vui theo sự giết; không trộm cắp — không lấy của người không cho, sống bằng nghề trong sạch; không tà hạnh — giữ đời sống tình nghĩa trong sạch.

Miệng có bốn: không vọng ngữ (nói dối), không lưỡng thiệt (nói đôi chiều chia rẽ), không ác khẩu (nói lời thô ác), không ỷ ngữ (nói lời hoa mỹ vô nghĩa). Bốn nghiệp miệng thường bị xem nhẹ, mà lời nói tạo nghiệp mỗi ngày nhiều nhất.

Ý có ba: không tham dục — biết đủ với những gì mình có; không sân nhuế — học cách nhận thấy cơn giận ngay lúc nó vừa khởi; không tà kiến — thấy đúng nhân quả, không đổ thừa cho thần linh hay định mệnh.

Diễn lược

HT. Thích Thanh Từ gọi mười nghiệp lành là căn bản của người tu: giới làm nền cho định, định làm nền cho tuệ. Mười điều này không phải bảng cấm đoán mà là con đường — mỗi điều là một chiều quay của tâm: từ giết hại sang hộ niệm mạng sống, từ tham lam sang biết đủ, từ tà kiến sang thấy đúng nhân quả.

Ngày sóc vọng (mùng một, rằm) là dịp quý vị ăn chay và tự xét mười nghiệp này nơi mình — một ngày sống không tạo nghiệp ác là một ngày an ổn cho cả mình lẫn người. Mười nghiệp lành giữ vững rồi, thiền định mới có chỗ đứng; chẳng có bậc thang nào bỏ qua được bậc nền này.

Đọc trọn bộ: thientongvietnam.net (sách “Kinh Thập Thiện Giảng Giải”) hoặc thuvienhoasen.org (a15652, bản Thích Tâm Châu dịch).